Site icon BiOWiSH Việt Nam

Kiểm tra các tiêu chí tôm giống

Trong trại sản xuất tôm giống, để đưa ra các quyết định về phương pháp cho ăn, sử dụng chế phẩm vi sinh, thay nước, kháng sinh, chuyển bể hay xả bỏ hàng ngày thì việc đầu tiên là quan sát hoạt động ấu trùng tôm hay còn gọi là khám lâm sàng; gồm hoạt động bơi, tính hướng quang, đường phân, ruột, đục cơ và tính đồng nhất về kích cỡ.

Hoạt động bơi lội

Hoạt động bơi của ấu trùng thay đổi đặc trưng theo chu kỳ sống và là một trong những chỉ tiêu khám dễ thực hiện nhất. Zoea bơi nhanh, liên tục về phía trước và thường bơi theo vòng tròn để lọc ăn tảo. Mysis, bơi ngược với những cái búng đuôi không liên tục, để giữ cơ thể trong cột nước và ăn thực vật phù du, động vật phù du. Postlarvae bắt đầu bơi nhanh và liên tục về phía trước, tìm kiếm thức ăn trong cột nước. Trong các chế độ bơi riêng biệt này, nếu quan sát ấu trùng đang bơi tích cực thì ấu trùng tôm khỏe mạnh.

Tính hướng quang

Ấu trùng giai đoạn Nauplius và Zoea được đánh giá qua tính hướng quang. Để kiểm tra điều này, chúng ta lấy một mẫu ấu trùng cho vào cốc thủy tinh bên cạnh nguồn sáng và quan sát. Nauplius và Zoea chất lượng tốt sẽ di chuyển mạnh về phía ánh sáng; Mysis và postlarvae không phản ứng hướng quang. Nếu ấu trùng di chuyển mạnh về phía ánh sáng, thì ấu trùng khỏe, hoạt động tốt và ngược lại. Trong giai đoạn Zoea l, khi Zoea đang ăn thức ăn chủ yếu là tảo, các đường phân dài có thể được nhìn thấy nối từ hậu môn và dưới dạng lỏng trong cột nước. Khi 90 – 100% ấu trùng có những đường phân dài, liên tục dọc theo ống tiêu hóa, qua cơ thể của chúng và tiếp tục ở bên ngoài, chúng được coi là cho ăn tốt và khỏe mạnh; còn ấu trùng không có những đường phân này có nghĩa là ấu trùng không ăn. Tuy nhiên, trong giai đoạn Zoea này, nếu hội chứng Zoea II xảy ra thì tỷ lệ chết cao; Hội chứng Zoea II xảy ra khi Zoea I biến thái không thành công sang Zoea II hoặc Zoea II bị nhiễm khuẩn. Để phát hiện sớm hội chứng này, ấu trùng Zoea cần được soi dưới kính hiển vi với các dấu hiệu quan sát thấy trống ruột, sưng ruột và hạt trắng trong ruột.
Ấu trùng khỏe mạnh sẽ bơi tích cực, nhanh nhẹn – Ảnh: VS

Đường ruột

Có thể quan sát đường ruột trên ấu trùng lớn như một đường đậm kéo dài từ gan tụy ở vùng đầu ấu trùng về phía sau hậu môn. Giữ ấu trùng trong cốc thủy tinh và quan sát ruột. Việc kiểm tra này rất hữu ích để biết được khả năng ăn của ấu trùng và xác định thức ăn dư hay thiếu. Hầu hết các ấu trùng tốt xuất hiện với ruột đầy và tối màu; nếu không thì chúng đang bị cho ăn thiếu hoặc bị bệnh. Khoảng 20 – 50% số ấu trùng có thức ăn trong ruột thì cần phải kiểm tra các yếu tố khác như môi trường nước, bệnh để có biện pháp xử lý kịp thời. Tuy nhiên, trong một số trường hợp vào giai đoạn Mysis, ruột tôm trống không rõ nguyên nhân, vì vậy cần phải kiểm soát chặt chẽ tất cả các yếu tố để phòng là tốt nhất.

Dịch bệnh

Khi quan sát ấu trùng tôm, hai dạng bệnh đục cơ thường được thấy xuất hiện trong trại giống. Bệnh thứ nhất có biểu hiện hoại tử và trắng gan tụy và ruột giữa, với các đốm trắng ở giáp đầu ngực hoặc một đường trắng từ đầu đến đuôi. Bệnh này gây tử vong nhanh và nặng. Bệnh thứ hai biểu hiện đuôi trắng nơi nó uốn cong ở đốt bụng thứ 3, dần dần lan ra toàn bộ cơ thể cho đến khi gây chết. Sợi phân trắng được quan sát thấy nổi trong bể; bệnh này gây tỷ lệ tử vong thấp hơn. Nếu không quan sát thấy bệnh đục cơ, thì ấu trùng tôm khỏe mạnh; nếu bệnh quan sát xuất hiện từ 10% trở lên, quần thể xuất hiện đục cơ, nguy cơ bệnh rất cao. Nguyên nhân chính xác của các bệnh này vẫn chưa rõ, nhưng có thể liên quan đến sự hiện diện của ký sinh trùng microsporidian và bệnh do virus như virus hoại tử tuyến ruột giữa (BMNV). Hầu như các biện pháp xử lý bao gồm kháng sinh đều vô tác dụng, bể được xả nhanh nhất có thể trước khi bệnh có thể truyền sang các bể lân cận. Phòng ngừa bệnh thông qua lựa chọn tôm bố mẹ sạch bệnh, khử trùng và xử lý nước thích hợp, làm sạch bể và sử dụng men vi sinh thay vì kháng sinh được khuyến nghị áp dụng.
 
Các chất trong đường ruột có thể được quan sát trong các giai đoạn ấu trùng lớn. Ruột có thể nhìn thấy như một đường tối kéo dài về phía sau từ gan tụy ở vùng đầu ấu trùng. Giữ ấu trùng trong cốc thủy tinh để quan sát ruột. Việc kiểm tra này rất quan trọng để biết được khả năng ăn của ấu trùng và xác định thức ăn dư hay thiếu. Hầu hết các ấu trùng khỏe mạnh ruột có ruột đầy và tối màu.

Kích cỡ

Hầu hết các ấu trùng lột xác tốt nhất ở trong một giai đoạn. Khi có nhiều giai đoạn lột xác trong một bể duy nhất, nghĩa là có vấn đề (như bệnh hoặc chất lượng nước kém) cần được chú ý. Cần lưu ý rằng, khi ấu trùng tôm lột xác, tính đồng nhất về kích cỡ sẽ giảm đi, do đó thời gian lấy mẫu xác định tính đồng nhất của giai đoạn này phải được xem xét hợp lý.
 
Ngoài ra, hiện tượng phát quang được quan sát trực tiếp của bể nuôi ấu trùng trong bóng tối hoàn toàn. Sự phát quang của ấu trùng nói chung là do sự hiện diện của vi khuẩn như Vibrio harveyi. Nếu có các vi khuẩn có khả năng gây bệnh phải được xử lý ngay bằng chế phẩm vi sinh hoặc thay nước cho đến khi hết phát quang. Trường hợp nghiêm trọng và điều trị không hiệu quả, bể nên được xả nhanh chóng để tránh truyền nhiễm sang các bể khác, vì vi khuẩn này dễ dàng lây nhiễm dẫn đến tử vong hàng loạt.
 
Hà Nguyễn
Nguồn: Thủy sản Việt Nam
Exit mobile version